Kỷ Thuật cơ khí siêu đẳng
thời tiền sử
Phần 2: Kỹ thuật
cơ khí siêu đẳng thời tiền sử
Phần 3: Kỹ thuật
cơ khí siêu đẳng thời tiền sử
Phần 4: Kỹ thuật
cơ khí siêu đẳng thời tiền sử
Phần 5: Kỹ thuật
cơ khí siêu đẳng thời tiền sử
Bí ẩn các Kin Tự Tháp Gisa, Ai
Cập
Giáo sư Sir William
Matthew Flinders Petrie (3/6/1853 – 28/7/1942), thường được nhắc đến dưới
tên Flinders Petrie, là một nhà Ai Cập học rất nổi tiếng người Anh, và là
nhà tiên phong trong việc nghiên cứu Khảo cổ học một cách có phương pháp và
có hệ thống. Ông là nhà Ai Cập học số 1 tại Anh quốc, và đã khai quật tại
nhiều địa điểm khảo cổ quan trọng nhất tại Ai Cập, như Naukratis, Tanis,
Abydos và Amarna.
Bình
luận của Ngài Flinders Petrie về kỹ thuật cơ khí siêu đẳng ở Ai Cập cổ đại
Các đoạn trích
sau đây được lấy từ Chương VIII có tựa đề “Các phương pháp cơ khí”
trong tác phẩm kinh điển “Các Kim tự tháp và Đền thờ ở Giza” của
Petrie. Chúng liên quan tới một số phát hiện của ông tại Giza trong mùa
đông những năm 1880 và 1881.
“Các phương
pháp mà người Ai Cập đã thường xuyên sử dụng trong việc cắt gọt các loại đá
cứng, lâu nay vẫn chưa xác định được. Nhiều người đã thử giải thích, nhưng
một số lời giải thích là rất không thực tế. Người ta cũng không có các bằng
chứng thực sự về các công cụ, hoặc cách thức sử dụng chúng,…”
“Phương pháp
chế tác các loại đá cứng – chẳng hạn như đá granite, bazan, diorit, vv… –
là nhờ các công cụ bằng đồng; chúng hẳn là đã được lắp với các mũi cắt,
cứng hơn đá thạch anh nhiều mới cắt được nó. Chất liệu của các mũi cắt vẫn
chưa xác định được, nhưng chỉ có 5 chất là có thể – đá beryl, đá topaz,
chrysoberyl, corundum hoặc sapphire, và kim cương. Đặc điểm của công việc
này làm người ta nghĩ chắc kim cương đã được dùng để cắt, và nhìn chung chỉ
có sự quý hiếm của nó là không phù hợp với kết luận này mà thôi”.
“Nhiều quốc
gia,… , có thói quen cắt vật liệu cứng bằng công cụ làm từ một chất mềm
(như đồng, gỗ, sừng, vv…), với một loại bột cứng gắn lên nó; bột dính vào
dụng cụ, và dụng cụ chà xát trên khối đá muốn cắt gọt, nhờ đó bào mòn nó.
Nhiều người do đó rất dễ nghĩ rằng (như bản thân tôi lúc đầu) phương pháp
này nhất thiết là đã phải được những người Ai Cập sử dụng; và rằng đó là đủ
để sản xuất ra được tất cả các mẫu vật mà hiện nay đã thu thập được. Tuy
nhiên, trường hợp này hoàn toàn không phải vậy, mặc dù phương pháp này hẳn
là được sử dụng đối với đá thạch cao tuyết hoa và các loại đá mềm khác”.
“Chắc chắn
người Ai Cập đã quen với một loại đá quý dùng để cắt, cứng hơn thạch anh
nhiều. Và họ đã sử dụng thứ đá quý này như là một loại dao chạm sắc nhọn,
là điều không thể nghi ngờ, bởi vì tôi đã tìm thấy những mảnh vỡ của những
cái bát bằng đá diorite có chữ khắc của Triều đại thứ tư ở Giza; và những
vết trầy xước trên đá hoa cương láng bóng của triều đại Ptolemy tại San.
Các chữ tượng hình được chạm khắc bằng một mũi cắt rất cứng, chúng không
phải do cạo hoặc mài ra, mà do cày qua đá diorit, với đường nét có bờ gồ
ghề. Các đường nét chỉ rộng chưa tới 0,2mm (các chữ khắc dài khoảng 0,5cm),
đó là bằng chứng cho thấy mũi cắt phải cứng hơn thạch anh rất nhiều, và bền
chắc đủ để không bị vỡ ra khi tạo ra những gờ mép hoàn hảo như thế, có lẽ
chỉ rộng có 0,13mm mà thôi. Những đường song song đã được khắc chỉ cách
nhau có 0,8mm”.
“Do đó chúng ta
không cần do dự khi cho rằng những dòng chữ khắc trong đá cứng bằng những
mũi nhọn đá quý, đã là một nghệ thuật phổ biến thời kỳ ấy. Và khi chúng ta
tìm thấy những rãnh sâu 0,3mm trên bề mặt của những vết cưa trong đá
diorite, thì rất có thể chúng đã được tạo ra bởi các mũi nhọn bằng đá quý
gắn cố định, chứ không phải do sự mài giũa ngẫu nhiên nhờ một loại bột mài
nào đó. Và hơn nữa, ta thấy rằng những rãnh này gần như luôn luôn sâu đều
đặn, và cách đều nhau. Rõ ràng người ta đã tạo ra chúng bằng những vết cắt
liên tục của những răng cưa đá quý…”
“Các loại công
cụ là những chiếc cưa thẳng, cưa tròn, khoan ống, và máy tiện”.

Mẫu vật số 6 của Petrie: một thỏi đá diorit có những
rãnh tròn đều đặn và cách đều nhau. Nó là minh chứng hiển nhiên của việc
người thượng cổ đã sử dụng kỹ thuật khoan bao tâm, một kỹ thuật khó ngay cả
đối với kỹ thuật cơ khí ngày nay.
“Các cưa thẳng
có độ dày khác nhau, từ 0,8mm đến 5mm, tùy theo công việc, những cái lớn
nhất dài tới 2,5m trở lên” “… mẫu vật số 6, một miếng đá diorit có những
rãnh đều đặn và cách đều nhau, có dạng các cung tròn song song với nhau.
Những đường rãnh này dường như đã được đánh bóng bằng cách mài giũa, nhưng
vẫn còn có thể nhìn thấy được. Cách giải thích hợp lý duy nhất cho mẫu vật
này, là nó được tạo ra bởi một lưỡi cưa tròn”.
“Những chiếc
khoan ống này khác nhau về độ dày, có đường kính từ 0,6cm đến 13cm, và dày
từ 0,8mm đến 5mm. Lỗ khoan nhỏ nhất được tìm thấy trong đá granite có đường
kính 5cm”.
“Tại El
Bersheh… có một mẫu vật còn lớn hơn, nơi mà một nền tảng đá vôi đã được
tách ra, bằng cách cắt nó đi với những ống khoan có đường kính khoảng 46cm;
các rãnh tròn đôi khi giao nhau, chứng tỏ rằng nó đã được thực hiện chỉ để
loại bỏ tảng đá mà thôi”.


Cái bình bằng đá cứng, tròn như một khối cầu ngay
cả ở phần đáy, nhưng nó vẫn đứng thăng bằng hoàn hảo. Điều đó chứng tỏ nó
cực kỳ cân đối, cho thấy cấp độ chính xác siêu việt của các hiện vật đá
này. Vậy mà cái bát này lại có từ nhiều ngàn năm trước chứ không phải được
chế tác gần đây bằng máy cơ khí hiện đại.
“… Máy tiện
dường như là một công cụ thường thấy trong Triều đại thứ tư, giống như ở
trong các xưởng máy hiện đại ngày nay. Người ta thường hay bắt gặp những
cái bát và bình bằng đá diorite của Vương triều cũ, cho thấy kỹ năng kỹ
thuật tuyệt vời. Một mẫu vật đã được tìm thấy tại Giza, mẫu vật số 14, cho
thấy phương pháp được sử dụng quả thật là máy tiện, chứ không phải là quá
trình mài giũa nào cả. Bởi vì cái bát đã được cắt rời ra theo đúng tâm của
nó, được xác định tâm mới một cách không hoàn toàn, và phần tiện cũ không
hoàn toàn bị cắt rời ra, do đó tạo thành hai bề mặt có tâm tiện khác nhau,
và 2 bề mặt gặp nhau tại một đỉnh nhọn. Biểu hiện như vậy không thể là do
quá trình nghiền hoặc chà xát thủ công nào trên bề mặt cả. Một chi tiết ở
mảnh vỡ số 15;… ở đây các đường cong của cái bát có hình cầu, và do đó ắt
phải đã bị cắt bởi một công cụ, quét một vòng cung từ một tâm cố định trong
khi cái bát được xoay vòng. Cái tâm này hoặc trục đứng của công cụ này là
nằm đúng theo trục của máy tiện để tạo ra bề mặt chung của cái bát, ngay
đến các cạnh của nó; nhưng bởi cần một gờ nhô, tâm của công cụ này đã được
dịch chuyển, nhưng với cùng một bán kính vòng cung, và một nhát cắt mới đã
tạo ra một gờ nhô trên cái bát. Đây chắc chắn không thể nào là kết quả của
việc làm thủ công, không chỉ bởi dáng tròn chính xác của các đường cong và
sự đều đặn của chúng, mà còn bởi đỉnh nhô được tạo ra nơi chúng giao nhau.
Nó chắc chắn không phải là được mài tròn như kiểu làm thủ công, và đó là
bằng chứng rõ ràng của phương pháp cơ khí cực kỳ cao cấp được áp dụng để
tạo ra các đường cong ấy”.

Một cái đĩa bằng đá cứng khác. Theo bạn sử dụng công
cụ bằng đồng có thể nào tạo ra những vật dụng hàng ngày tinh vi đến mức này
không? Tuy vậy, những người bí ẩn tại vùng đất mà nay là Ai Cập đã tạo ra
chúng ít nhất là từ 6.000 năm trước đây!

Cái đĩa
bằng đá diệp thạch này được tìm thấy tại Saqqara, Ai Cập. Người ta chỉ có
thể phỏng đoán mục đích của nó mà thôi. Nó có đường kính khoảng 30cm, và
chỉ dày 1cm. Hiện nó được trưng bày tại bảo tàng Cairo, và được gán nhãn là
“cái đựng hương trầm”, mặc dù hoàn toàn không có bằng chứng nào chứng minh
điều đó. Rõ ràng, đẽo gọt đá (hoặc đúc đá) đã là kỹ năng quen thuộc của họ.
Nhìn chúng, không ai trong chúng ta không liên tưởng tới những bộ phận máy
móc nào đó của thế giới hiện đại, nếu ta không biết chúng được chế tạo bằng
chất liệu gì, ở đâu, và vào thời gian nào.
top
Minh Trí
Phần 2: Kỹ thuật
cơ khí siêu đẳng thời tiền sử
Các bằng chứng này là
hết sức giản dị và tự nhiên, và cũng hết sức rõ ràng. Các bạn chỉ cần quan
sát các bằng chứng và tự mình đưa ra nhận xét. Những khối đá đó đã tự mình
nói lên tất cả rồi.
Các
bằng chứng về những nền văn minh các chu kỳ trước có thể thuộc một trong hai
loại: trực tiếp và gián tiếp. Bằng chứng trực tiếp bao gồm những tàn tích có
thể xác định được niên đại rõ ràng, cho thấy rõ là chúng thuộc về những thời
kỳ hết sức cổ xưa, vượt quá xa khỏi tầm xích của thuyết tiến hóa. Những công
trình xây dựng dưới đáy biển như Yonaguni Nhật Bản, Guanahacabibes Cuba,
Cambay Ấn Độ, Bimini,… là những minh chứng hiển nhiên vẫn còn tồn tại tới
ngày nay, bởi vì chính trạng thái đang chìm sâu dưới nước ấy có thể được sử
dụng để xác định niên đại cho chúng.
Các bằng chứng gián tiếp là
những hiện vật đòi hỏi công nghệ chế tác phải rất cao, không thuộc về bất kỳ
nền văn minh đã biết nào.
Để khẳng định sự tồn tại của
một nền văn minh trước thời kỳ của người Ai Cập trên vùng đất đó, cần phải
đưa ra và chứng minh được những hiện vật có hàm chứa kiến thức hoặc công nghệ
cao hơn trình độ của bất kỳ nền văn minh nào mà chúng ta đã biết (thậm chí
ngay cả chúng ta hiện nay).

Một
trong những ví dụ về trình độ khoa học rất cao siêu của nền văn minh tiền sử,
đó là công nghệ chế tác đá của những chủng người bí ẩn cổ xưa trên vùng đất
mà về sau trở thành Ai Cập. Các công trình xây dựng cổ đại ở Sacsayhuaman,
Peru, vv… dường như liên quan đến những công cụ phức tạp tinh vi chứ không
chỉ là những cái đục bằng đồng hoặc các công cụ thô sơ khác. Nhưng bằng chứng
cụ thể hơn cả có lẽ là nằm ở Ai Cập cổ đại.
Các bằng chứng này là hết
sức giản dị và tự nhiên, và cũng hết sức rõ ràng. Các bạn chỉ cần quan sát
các bằng chứng và tự mình đưa ra nhận xét. Những khối đá đó đã tự mình nói
lên tất cả rồi.


Hình
ảnh bên trái là của một cái bình được làm từ đá cứng được tìm thấy ở Ai Cập
có niên đại từ thời kỳ tiền vương triều, khoảng ít nhất là 6.000 năm trước.
Nó bóng láng, tròn trịa và đối xứng hoàn hảo, đến mức có thể đứng thăng bằng
trên một mặt đáy có hình dạng và kích thước của đỉnh trứng gà. Ngay cả nếu sử
dụng công nghệ hiện đại như máy tiện của chúng ta ngày nay, để đạt tới trình
độ chế tác đá cao siêu như vậy cũng vẫn cực kỳ khó. Đối với bình hoa bên
phải, “người tiền sử” có thể cắt gọt mài giũa bề mặt bên trong với những góc
cạnh tròn đều và đường cong hoàn hảo, trong khi đường kính cổ bình lại rất
nhỏ hẹp. Với kỹ thuật hiện đại ngày nay, chúng ta cũng không thể làm được như
họ.
Quan sát các mẫu vật này, ai
cũng sẽ đặt câu hỏi: làm sao họ có thể chế tác chúng? Đó rõ ràng là một công
nghệ rất cao.
Vậy ở đây, công nghệ đó là
gì? Có 3 khả năng: họ biết cách làm cho đá trở nên mềm hơn. Hoặc, họ biết làm
ra đá nhân tạo. Hoặc, họ sở hữu máy công cụ cao cấp điều khiển tự động. Dù là
trường hợp nào đi nữa, thì đối với khung nhìn của quan niệm hiện nay, đều là
vô cùng kỳ lạ.
Hơn thế nữa, đó là một trong
những công nghệ từng phổ biến khắp toàn cầu. Công nghệ đó giúp người thượng
cổ có thể chế tác được những chiếc bình đá, đồng thời cũng giải thích tại sao
những khối đá khổng lồ ở Sacsayhuaman, Ai Cập, Inca, Cuzco, Machu Pichu, đảo
Easter, và rất nhiều nơi khác trong thế giới cổ xưa, có thể ghép nối một cách
tuyệt vời như vậy, đến mức gần như hợp nhất với nhau.

“Đền Thung lũng”, Giza, Ai Cập – Có nhiều
khối đá với đặc điểm như vậy tại đây.

Luxor, Ai Cập

Cuzco, Nam Mỹ.


Inca, Nam Mỹ. Người Inca có lưu truyền một
“huyền thoại” rằng họ là con cháu của một nền văn minh đã mất.
Chúng ta dễ dàng thấy rằng
công nghệ chế tác đá của họ là tinh vi đến mức không tưởng, và hết sức tương
đồng với nhau. Đó là những bằng chứng hiển nhiên, cho thấy các nền văn minh
sớm nhất mà chúng ta đã biết hiện nay đều có một nguồn gốc chung. Nó cũng
giải thích vì sao những nền văn minh sớm nhất như Lưỡng Hà, Ai Cập, cổ Trung
Hoa,… đều xuất hiện đột ngột với trình độ phát triển rất cao ngay từ đầu.
Kiến trúc Kim tự tháp ở khắp nơi trong thế giới thượng cổ như Ai Cập, Iran,
Iraq, Maya, Teotihuacan, Trung Quốc, nhiều nước châu Âu, thậm chí dưới đáy
biển ở Cuba và Nhật Bản,… thật ra đều là dạng kiến trúc phổ biến của 1 thế
giới đã diệt vong. Những hậu duệ sống sót qua trận Đại Hồng Thủy đã xây dựng
nên những nền văn minh mới kể trên, và nhờ những di sản kiến thức được thừa
kế họ đã phát triển rất cao đột ngột ngay từ đầu. Những di sản vĩ đại của nền
văn minh chu kỳ liền trước hầu hết đều được giữ bí mật trong số các nhân vật
đặc quyền của các nền văn minh hậu duệ kể trên, gồm các pharaông, quốc vương,
thầy tế, quốc sư, vv…. Tuy nhiên, một số thì vẫn được công khai, trong đó có
kiến trúc Kim tự tháp, “Quyển sách của người chết”, Kinh Dịch, Tử Vi, Bát
Quái, Hà Đồ, Lạc Thư,… Tất cả chúng đều là các di sản thừa kế của những nền
khoa học đi theo các con đường khác. Đó cũng là lý do vì sao các học giả hiện
nay không thể nghiên cứu chúng thấu đáo nổi, nhiều nhất cũng chỉ sử dụng được
ở chừng mực rất hạn chế mà thôi.
top
Minh Trí
Phần 3: Kỹ thuật cơ
khí siêu đẳng thời tiền sử
Thứ gì đang đứng đằng
sau và thao túng lịch sử loài người, và mục đích của nó là gì? Điều đó còn bí
ẩn hơn chính những hiện vật kể trên, và thậm chí còn bí ẩn hơn cả những thành
phố tiền sử mà hiện đang nằm dưới đáy đại dương…
Ở vùng đất Ai Cập có những
bằng chứng về công nghệ chế tác đá rất phát triển từ thời đại trước khi nền
văn minh Ai Cập xuất hiện.
Nhà Ai Cập học số 1 thế
giới, Ngài Flinders Petrie, là người đầu tiên nói đến ý tưởng này. Sir
Flinders Petrie cũng đã từng nói rằng các công cụ của các vương triều Ai Cập
“không đủ để giải thích các hiện vật ở Ai Cập”. Gần đây nhà nghiên
cứu Chris Dunn đã dẫn ra nhiều mẫu vật được chế tác bằng các máy móc cơ khí
tại Giza vào thời thượng cổ, chứng minh những luận cứ của Sir Flinders Petrie
là rất có cơ sở thực tế.
Chris Dunn đã kiểm tra lại
những hiện vật bằng đá hỏa sinh từng được Petrie kiểm tra trước đây và kết
luận rằng chúng “cho thấy gần như chắc chắn, rằng các thợ xây kim tự tháp
đã sử dụng máy móc cơ khí”.
Các dấu vết xoắn ốc đều đặn
và rõ ràng do công cụ gây ra trên các mẫu vật, cho thấy người thượng cổ ở
miền đất Ai Cập chắc chắn đã phải sử dụng kim loại hay đá quý cứng hơn đồng
rất nhiều chứ không thể chỉ dùng công cụ đồng và đá.

Hình ảnh này là cận cảnh những dấu vết do công cụ để lại trên một mẫu vật
bằng đá granite. Sự rõ nét, độ dài và khoảng cách đều đặn của các dấu vết chỉ
ra rằng:
1. Một mũi công cụ có độ cứng lớn hơn đá granite đã được sử dụng,
2. Với một áp lực không đổi.
Dưới đây là vài hình ảnh của
các đồ tạo tác cổ xưa được tìm thấy tại vùng đất Ai Cập có dấu vết của nhiều
phương pháp cơ khí khác nhau: kỹ thuật khoan bao tâm, cưa, và tiện. Điều đó
chứng tỏ, có những chủng người bí ẩn ở miền đất Ai Cập cổ đại đã sử dụng các
công cụ (khoan ống, cưa thẳng và cưa tròn, và “những chiếc máy quay tròn” –
máy tiện) để chế tác đá.

Kỹ thuật khoan bao tâm. Đó là một kỹ
thuật khó, tuy nhiên dường như đối với người thượng cổ điều đó không hề khó
khăn.

Kỹ thuật cưa trong đá cứng. Những gờ
sắc nét và song song chứng tỏ trình độ kỹ thuật rất cao, lưỡi dao đã được giữ
hết sức ổn định, hoàn toàn không có hiện tượng bật nảy và cong vẹo nếu sử
dụng lưỡi cưa đồng. Có vẻ việc cắt đá bazan này không hề chậm chạp và khó
khăn, bởi vì nếu vậy người xưa không bao giờ tạo ra những nhát cắt thừa phí
rất nhiều thời gian công sức như thế.

Kỹ thuật tiện, và kỹ thuật tổng hợp. Trừ chiếc bình bên trái làm
bằng đá trầm tích thời vương triều thứ 2, tất cả các hiện vật khác đều được
làm bằng đá cứng thời vương triều Ai Cập đầu tiên, ít nhất 5.000 năm trước.
Chúng cho thấy kỹ năng chế tác đá siêu việt, ngay cả đối với kỹ thuật cơ khí
hiện đại ngày nay của chúng ta.
Chúng ta có thể nói gì về
những người xây dựng thượng cổ bí ẩn này?
• Họ có ống khoan – mũi
khoan, cùng với máy móc để giữ cho chúng ổn định và áp dụng các mô-men quay.
• Họ có những lưỡi cưa có thể cắt được đá granite một cách dễ dàng và chính
xác.
• Họ có khả năng chạm khắc được các loại đá cứng nhất.
• Họ cực giỏi trong việc xử lý đá granite tại chỗ – sau khi các khối xây đã
được đặt vào vị trí trong một bức tường hay trên bề mặt của một kim tự tháp.
• Họ có khả năng cắt gọt, san phẳng và đánh bóng đá granite ở trình độ cực
cao.
• Họ có máy tiện có thể lật xoay và đánh bóng đá granit, đá phiến, đá bazan,
vv… (theo những cách nào đó mà chúng ta chưa thể làm nổi).
• Họ có các phương tiện để cắt khớp đá vôi cực kỳ chính xác với độ phẳng rất
cao, trên những bề mặt rộng – tới 3,3 mét vuông trở lên, và dường như họ đã
làm chủ được kỹ thuật này từ trước khi xây dựng lớp vỏ của
các kim tự tháp Giza.
• Họ có kiến thức và công nghệ thích hợp để nhấc bổng, cơ động chính xác và
đặt những khối xây bằng đá rất lớn vào đúng vị trí một cách hoàn hảo.
• Họ có các phương tiện và động lực để khai thác đá và di chuyển hàng triệu
khối đá lớn.
• Họ có các kỹ năng quản lý và sự giàu có để tổ chức công trình rất lớn. Các
dự án lớn này bao gồm tất cả các khía cạnh của công trình dân dụng, kiến
trúc, khảo sát, kỹ thuật đo đạc, quản lý nhân sự đa cấp và nhiều mặt, cơ sở
hạ tầng vật lý, quản lý vật liệu, vv…
Họ đã phát triển thành một
xã hội có trình độ chính trị, tổ chức, kỹ thuật cùng với trình độ phát triển
văn hóa cao đến như vậy bằng cách nào?
Một luận điểm khoa học chỉ
đáng tin cậy nếu không có hiện vật thực tiễn nào mâu thuẫn với nó, nếu không
luận điểm đó chắc chắn là sai. Thế nhưng, thật đáng ngạc nhiên, hiện nay các
hiện vật thực tế mâu thuẫn hoàn toàn với lịch sử theo khung nhìn tiến hóa đã
lên đến con số hàng trăm ngàn, vậy mà không ai đủ can đảm đứng ra nghiên cứu
và viết lại lịch sử. Họ sợ hậu quả gì? Thứ gì đang đứng đằng sau và thao túng
lịch sử loài người, và mục đích của nó là gì? Điều đó còn bí ẩn hơn chính
những hiện vật kể trên, và thậm chí còn bí ẩn hơn cả những
thành phố tiền
sử mà hiện đang nằm dưới đáy đại dương…
top
Minh Trí
Phần 4: Kỹ thuật cơ
khí siêu đẳng thời tiền sử
Trước khi các kim tự
tháp Giza được xây dựng, toàn bộ khu đất cao Giza đã được san phẳng một cách
cực kỳ hoàn hảo, sau đó được phủ bằng một lớp đá vôi và đá bazalt lát nền
rộng lớn. Nhưng thật kỳ lạ là, trong nhiều khối đá đó từ rất lâu người ta đã
khám phá ra những vết cưa cho thấy kỹ năng và trình độ công nghệ phải rất
cao.
Bạn sẽ
tìm thấy những vết cưa, trong đá bazalt, ở phía đông Kim tự tháp Lớn tại
Giza. Chúng ta nên biết đá bazalt có độ cứng trên thang Moh là từ 4 tới 6, có
nghĩa là tương đương đồng thau (có thể hơn). Do đó dùng đồng để cắt đá bazalt
là không có hiệu quả. Vì thời đó không có sắt, do vậy các nhà khoa học đoán
rằng những chiếc cưa hẳn đã được làm bằng đồng gắn lưỡi cưa kim cương. Nhưng
thực tế là người ta chưa bao giờ tìm được bằng chứng nào của những chiếc cưa
kiểu như vậy cả.

Khu phía đông của Kim tự tháp Lớn trên cao
nguyên Giza nhìn từ trên cao. Vùng bôi màu vàng là nơi để bắt đầu tìm kiếm
những dấu cưa trong đá.

Những dấu cưa trong đá bazalt ở khu phía đông của kim tự tháp Lớn. Nhìn
cận cảnh.
Những tảng đá
bazalt vỉa hè có độ dày bất thường, và đôi khi được mài tròn ở phía dưới
cùng. Chúng được đặt trên đầu các khối đá vôi Tura tầng đá gốc bên dưới. Hình
sau đây cho thấy các khối đá bazalt này đã được cắt sau khi được đặt vào đúng
chỗ trên mặt đất.

Những gờ sắc nét và song song chứng tỏ trình
độ kỹ thuật rất cao, lưỡi dao đã được giữ hết sức ổn định. Có vẻ việc cắt đá
bazalt này không hề chậm chạp và khó khăn, bởi vì nếu vậy người xưa không bao
giờ để lại những nhát cắt thừa phí rất nhiều thời gian công sức như thế.
Những vết cắt thừa trông tương tự như vết cưa máy khi lỡ tay quệt phải. Những
vết cắt như thế có thể thấy ở nhiều nơi.
Nếu bạn tới đây và tìm thấy chỗ này, hãy nhìn xung quanh phía sau bạn về phía
bắc – có nhiều vết cắt tương tự trong vòng 9m. Ở một chỗ bạn có thể tìm thấy
những vết cắt song song thẳng đứng sát cạnh nhau.

Ở một nơi khác gần đó, bạn có thể dễ dàng tìm
thấy các vết cưa dài cắt qua khối đá cứng. Trong hầu hết các trường hợp, các
dấu cưa rất thẳng và trơn láng, các mặt bên song song nhau hoàn hảo. Không hề
có dấu vết của sự “nhảy” hoặc không ổn định thường thấy ở những vết cưa tay
sử dụng lưỡi cưa dài, khi lưỡi cưa bắt đầu xâm nhập vào một vật liệu cứng.

Hộp đá granit trong
Phòng vua, kim tự tháp Lớn tại Giza. Ảnh: Stephen S. Mehler, 2006. Chúng ta
biết rằng chiếc “quan tài” (thực ra cả nó lẫn căn phòng cũng như cả kim tự
tháp Lớn đều chưa từng chứa xác ướp nào cả) đã được cắt bằng một lưỡi cưa rất
lớn – có thể lên tới gần 3m. Các dấu vết ở dưới đáy hộp được phát hiện và mô
tả bởi nhà Ai Cập học tiên phong của thế giới Sir Flinders Petrie trong tác
phẩm kinh điển “Các Kim tự tháp và đền thờ ở Giza”. Ông cũng mô tả một lỗi
cắt đá để lại những dấu vết rõ ràng. Chúng ta không biết các lưỡi cưa được
làm bằng chất liệu gì, liệu nó có răng hay là người thượng cổ đã sử dụng chất
mài mòn nào đó hay không. Chiếc hộp đá này được cắt phẳng đến mức, nếu ta đặt
cái thước kỹ thuật vuông góc lên bề mặt của nó rồi rọi đèn pin vào một mặt
thước, thì ánh sáng không thể lọt được qua bên kia.

Đảo Elephantine, Aswan, Ai Cập. Chiếc hòm
bằng đá granite nhiều ngàn năm tuổi được cắt gọt tinh vi vuông vức đến mức độ
này. Không ai trong chúng ta có thể sử dụng công cụ bằng đồng để đục đẽo ra
được tác phẩm tuyệt vời như thế. Người cổ xưa đã sở hữu công nghệ gì?
Ta dễ dàng nhận thấy những
vết cưa này hoàn toàn không bình thường. Cùng với những bằng chứng rõ ràng
khác khắp nơi trên cao nguyên Giza ta có thể khẳng định: công nghệ chế tác đá
của người thượng cổ là hết sức tinh vi và hoàn hảo. Công nghệ đó xa lạ khác
biệt và có nhiều mặt vượt trội hơn cả chúng ta ngày nay. Nói tóm lại, nó
không phải là của chúng ta mà thuộc về những nền văn minh đã mất.
top
Minh Trí
Phần 5: Kỹ thuật cơ
khí siêu đẳng thời tiền sử
Tốc độ cắt của các thiết
bị khoan hiện đại, nhà khoa học Chris Dunn tính toán được là 0,0005cm/vòng
quay. Như vậy những người bí ẩn ở vùng đất Ai Cập ấy đã khoan vào đá granite
với tốc độ khoan lớn hơn 500 lần so với các máy khoan hiện đại.
Kỹ thuật khoan lấy
lõi thời cổ đại

Phương pháp khoan lấy lõi (hay khoan bao tâm): lưỡi
khoan có dạng ống tròn. Đây là kỹ thuật khoan khó, đòi hỏi lực khoan lớn và
thân khoan phải được giữ rất ổn định. Tuy nhiên ở vùng đất mà về sau trở
thành Ai Cập cổ xưa, người ta đã tìm thấy nhiều lỗ khoan và lõi khoan dạng
này trong đá cứng, có niên đại nhiều ngàn năm trước.
Để tạo ra những lỗ khoan lõi
kiểu như vậy, rõ rằng cần phải có khai thác mỏ và luyện kim, sự chế tạo các
mũi khoan, kinh nghiệm sử dụng vật liệu mài, kỹ thuật xoay tròn – bánh xe, và
tất cả những thứ có liên quan với nó.
Nhiều nhà khoa học cho rằng
những lỗ khoan này là do người hiện đại thực hiện. Tuy nhiên, những ý kiến
này không được chấp nhận bởi theo các ghi chép lịch sử thì 1000 năm trước, đã
có các văn bản miêu tả về những lỗ khoan bao tâm vô cùng bí ẩn này.

Năm
1996, mảnh đá granite này được trưng bày tại Bảo tàng Cairo mà không có bất
kỳ thông tin chú thích nào cả, có lẽ là miễn bình luận do nó quá kỳ dị. Các
hình ảnh cho thấy những rãnh xoắn ốc. Dễ nhận thấy rằng chiều sâu và khoảng
cách các rãnh tròn là đều đặn, được tạo ra bằng phương pháp khoan lấy lõi.
Vậy thì, những người sống
trên vùng đất Ai Cập thời thái cổ làm thế nào tạo ra được các lỗ khoan nhẵn
nhụi và tròn trịa đến như thế, nếu thời họ sống chưa phát minh ra kỹ thuật
khoan bao tâm, và các công cụ đều làm bằng đồng?
Nhà Ai Cập học vĩ đại, sir
Flinder Petrie cũng khẳng định rằng những người tiền Ai Cập cổ đã sử dụng máy
khoan trong một số công trình và tác phẩm của họ.
Phương pháp khoan lõi đã
được những người tại vùng đất Ai Cập thượng cổ sử dụng rất rộng rãi để chế
tác đá cứng, nhiều khi chỉ để loại bỏ phần đá thừa trong các tác phẩm của họ.
Điều đó chứng tỏ kỹ thuật khoan cơ khí này là rất dễ dàng đối với chủng người
bí ẩn ấy.
Tốc độ khoan 500 lần
nhanh hơn máy khoan hiện đại
Khi xem xét kỹ các vết khoan
để lại, rõ ràng thiết bị khoan bí ẩn ấy đã sử dụng một áp lực lớn ép xuống
dưới. Khoảng cách giữa các rãnh khoan có thể được sử dụng để đo độ lớn của áp
lực đã được áp dụng.
Petrie nói về điều này như
sau: “Trên lõi đá granit, mẫu vật số 7, rãnh xoắn ốc của vết cắt tiến vào
dần với tốc độ 0,25cm trong một tiết diện có chu vi 15cm, nghĩa là 1/60, là
một tốc độ cắt thạch anh và fenspat đáng kinh ngạc”.
Tốc độ cắt của các thiết bị
khoan hiện đại, nhà khoa học Chris Dunn tính toán được là 0,0005cm/vòng quay,
cho thấy những người bí ẩn ở vùng đất Ai Cập ấy đã khoan vào đá granite với
tốc độ khoan nhanh hơn 500 lần so với các máy khoan hiện đại.

Lỗ khoan bao tâm trong đá granite hồng, được tìm thấy
tại “Đền thung lũng” Ai Cập. “Đền thung lũng” cùng với các kim tự tháp Giza
có nhiều điểm khác biệt so với phần còn lại của Ai Cập cổ đại, cho thấy trình
độ công nghệ cao hơn hẳn.


Phần lõi đá của lỗ khoan bao tâm. Đá granite hồng. Được
ngài William Flinders Petrie tìm thấy vào năm 1881.
“Những khoan hình ống
này có độ dày khác nhau, có đường kính từ 6mm đến 13cm và dày từ 0,8mm đến
5mm. Lỗ khoan nhỏ nhất được tìm thấy trong đá granite có đường kính 5cm”.
“…Còn có một mẫu lớn
hơn, ở nơi mà một cái nền đá vôi đã được đẽo gọt, bằng cách cắt nó ra bằng
những ống khoan có đường kính khoảng 46cm; các rãnh tròn đôi khi giao nhau,
chứng minh rằng nó đã được thực hiện chỉ đơn thuần là để loại bỏ phần đá
thừa đó”.
Ngài W.M. Flinders Petrie,
nhà Ai Cập học số 1 Anh quốc, 1883
Các nhà xây dựng cổ đại đã
sử dụng một ống khoan lấy lõi để đục rỗng cái bồn đá trong “phòng Vua” của
Kim tự tháp Lớn. Họ đã
khoan và để lại một dấu khoan ống ở phần trên bên trong của cái bồn (vị trí
mũi tên chỉ). Họ đã đánh bóng một chút xung quanh dấu khoan đó, nhưng nếu tới
đó quan sát một cách cẩn thận, chúng ta vẫn nhìn thấy nó:


Các dấu vết trong cái hộp đá granite trong “Phòng
vua” của kim tự tháp Lớn cho thấy lỗ khoan nằm ở góc trên phía đông cái hộp,
sử dụng phương pháp khoan lấy lõi! Đây là một kỹ thuật cơ khí rất cao cấp.
Những gì bạn nhìn thấy trong
hai bức ảnh dưới là những cái lỗ được tạo ra bởi một mũi khoan lấy lõi trong
đá granite đỏ. Các vòng tròn màu xanh trên sơ đồ là nơi có thể nhìn thấy
chúng trong các thanh dầm granite trên cao, tại Đền Thung lũng, gần tượng
Nhân Sư:



Hầu hết các cửa ở ngôi đền này vẫn còn dấu
vết của các lỗ khoan. Dường như các lỗ khoan đã được sử dụng để đỡ trục xoay
cho cửa ra vào, giống như bản lề.

Các vòng tròn trên ảnh này cho thấy một số chỗ mà du
khách có thể tìm thấy các lỗ khoan đó.

Một bằng chứng nữa của kỹ thuật khoan lấy lõi ở Ai
Cập tiền sử.

Dấu vết khoan lấy lõi trong đá basalt, sử dụng 2
lưỡi khoan tròn có bán kính khác nhau, tạo thành một cái ống. Niên đại ít
nhất khoảng 5.000 năm. Được trưng bày tại viện bảo tàng Petrie.
Các dấu khoan trong
lòng đá cứng khắp thế giới cổ xưa


Morbihan, Pháp. Những phiến đá với
những dấu khoan trên bề mặt.
Dấu khoan trên các phiến đá song song với nhau, cho thấy các tảng đá lớn đã
được khoan để tách làm đôi.

Mnajdra, Malta. Hằng trăm lỗ khoan trang trí trên những
khối đá. Có niên đại khoảng 6.000 năm.

Tiahuanaco. Kiểm tra kỹ lưỡng khối
đá trên, người ta thấy những dấu khoan cách đều nhau dọc theo chiều dài của
vết cắt chính xác rộng 6mm này.
top
Minh Trí
Danh ngôn có câu: “Tìm
hiểu lịch sử để hướng tới tương lai”. Vậy, tương lai gì sẽ chờ đợi loài
người, khi mà lịch sử và nguồn gốc của loài người đã bị bóng ma nào đó đánh
cắp?

Ảnh
chụp từ trên cao cho thấy, đáy của Kim tự tháp Lớn thực ra có hình bát giác
chứ không phải là hình vuông. Không ai biết kiến trúc đặc biệt trên có mục
đích gì. Người ta chỉ có thể nhận ra đặc điểm kỳ lạ này trong một số tình
huống và dịp nhất định.
Các
mặt bên của kim tự tháp trùng với 4 phương hướng của la bàn với độ chính xác
phi thường, sai lệch trung bình chưa tới 0,06 %.
Kim tự tháp Lớn có chức
năng như một đồng hồ mặt trời khổng lồ. Bóng của nó ở phía Bắc, và ánh sáng
mặt trời phản xạ về phía Nam, đánh dấu chính xác những ngày hạ chí đông chí
và xuân phân thu phân hàng năm. Các kích thước cơ bản của các Kim tự tháp
Lớn là các số đo mà từ đó kích cỡ và hình dạng của trái đất có thể tính toán
ra được.

Các góc
của Kim tự tháp Lớn nếu nối dài ra sẽ bao phủ toàn bộ vùng châu thổ sông
Nile, theo một hình quạt cân đối mà tâm nằm tại kim tự tháp
Kim tự tháp này là một mô
hình thu nhỏ của bán cầu, chứa trong nó các tọa độ địa lý của vĩ độ và kinh
độ. Đường vĩ tuyến và kinh tuyến mà giao nhau tại kim tự tháp (30 độ Bắc và
31 độ Đông) đi qua nhiều bề mặt đất của trái đất hơn bất kỳ kinh hay vĩ
tuyến nào khác, do đó kim tự tháp nằm ở vị trí trung tâm của khu vực đất đai
rộng lớn của trái đất (kim tự tháp Lớn được xây dựng trên khu đất phù hợp
gần nhất với ngã tư này).
Nói chung các kích thước
của kim tự tháp phản ánh chính xác các kích thước của Trái Đất mà chúng ta
gần đây đã đo được nhờ vệ tinh.
Nền móng của kim tự tháp
này bằng phẳng tới mức đáng kinh ngạc. Không có góc nào của nền móng là cao
hay thấp hơn 1,3 cm so với các góc kia. Cần biết rằng nền móng của kim tự
tháp này rộng khoảng 53.000 mét vuông, và mức độ phẳng hoàn hảo này thậm chí
vượt xa những tiêu chuẩn kiến trúc cao nhất của thời đại ngày nay.

Các
kích thước cái “hòm” đá của “phòng vua”, chứng tỏ người thượng cổ đã biết
đến định luật Pitago và bí mật của tam giác vuông 3,4,5 trước khi Pitago
chào đời nhiều ngàn năm
Các kích thước trong khắp
kim tự tháp cho thấy những người xây dựng ra nó biết về tỷ lệ của số pi
(3,14…), về tỉ lệ Vàng (1,618), và “tam giác Pitago” từ hàng ngàn năm trước
khi Pitago, người được cho là cha đẻ của môn hình học, ra đời.
Các kích thước cho thấy
những người xây dựng đã biết hình dạng cầu và kích thước chính xác của trái
đất, và đã vẽ đồ thị các sự kiện thiên văn phức tạp như sự tiến động của các
điểm phân (xuân phân và thu phân) và các ngày mặt trăng đứng lại một cách
chính xác. Độ chính xác phi thường của các chiều rộng của nền móng kim tự
tháp (chỉ lệch vài cm trên 230 mét) thậm chí không phải là một lỗi do những
người xây dựng gây ra, mà là một phương pháp tài tình để đưa vào kim tự tháp
“các sai biệt” của chính trái đất, trong trường hợp này là sự sai biệt của
độ phẳng của trái đất tại các cực.
Tất cả điều này có nghĩa là
gì? Tại sao các nhà xây dựng bí ẩn của các kim tự tháp trên cao nguyên Giza,
lại mã hóa rất nhiều thông tin toán học, địa lý, và thiên văn học chính xác
vào những công trình của họ? Mục đích của kim tự tháp là gì?

Trong
khi loài người hầu như không biết gì về lịch sử nhân loại từ 6.000 năm trước
trở về trước, lại có nhiều nhà khoa học lại tưởng tượng và đưa vào sách giáo
khoa “sự thật về lịch sử 4,5 tỉ năm của Trái Đất”. Trong khi ngay dưới đáy
đại dương chỉ sâu có 11km vẫn chưa thăm dò nổi, lại có những người mơ tưởng
tới chuyện “đi sang hành tinh khác”. Trong khi dưới lòng đất sâu chỉ 15km
vẫn không khám phá được, lại giải thích và đưa vào sách giáo khoa “nguồn gốc
15 tỉ năm và độ lớn của vũ trụ”. Thật đáng ngạc nhiên, người ta không nhận
ra rằng điều đó là phi lôgic.
Lịch sử của loài người là
một đề tài đáng quan tâm nhất, thế nhưng nó lại cố tình bị bỏ quên. Danh
ngôn có câu: “Tìm hiểu lịch sử để hướng tới tương lai”.
Vậy, tương lai gì sẽ chờ đợi loài người, khi mà lịch sử và nguồn gốc của
loài người đã bị bóng ma nào đó đánh cắp? Trách nhiệm của mỗi con người có
lương tri và trí tuệ là phải hoàn trả lại lịch sử thực sự cho nhân loại, như
vậy mới là có trách nhiệm với con cháu của chúng ta, có trách nhiệm với sự
tồn vong của các thế hệ tương lai.
top
Minh Trí